Thứ Năm, 8 tháng 7, 2021

Hội thứ VI - 01. Phẩm “Duyên Khởi”

 

I. PHẨM “DUYÊN KHỞI”

 

Phần đầu quyền 566, Hội thứ VI, ĐBN.
(Tương đương với các phẩm “Duyên Khởi” của các Hội trước)

 

Gợi ý:

Kinh Thắng Thiên Vương Bát nhã Ba La Mật Đa do Nguyệt Bà Thủ Na dịch không có phẩm nào có tên riêng là “Duyên Khởi”, nhưng có phẩm tên là “Thông Đạt”. Phẩm này nhập chung hai phẩm “Duyên Khởi” và “Thông Đạt” của Kinh ĐBN làm một và đặt tên là Thông Đạt. Nội dung các phẩm này của hai Kinh tương đương nhau.

 

Tóm lược:

 

Quyển thứ 566

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời Bạc Già Phạm (Phật) ngự ở đỉnh núi Thứu Phong, thuộc thành Vương Xá, cùng với chúng đại Bí sô bốn vạn hai ngàn người đều là bậc A la hán, các lậu đã sạch, không còn phiền não, được chơn tự tại, tâm giải thoát hoàn toàn, tuệ giải thoát hoàn toàn, như ngựa khôn được tập luyện, cũng như rồng lớn, việc đáng làm đã làm xong, đã vứt bỏ gánh nặng, đã đạt được lợi ích, dứt hết các kiết sử, chánh trí giải thoát, tâm được tự tại rốt ráo đệ nhất. Các Ngài đó là: Cụ thọ Giải Kiều Trần Na, Đại Ca Diếp Ba, Cấp Phòng Bát để, Hạt Lệ Phiệt Đa, Đại Thải Thục Để, Đại Ca Đa Diễn Na, Tất Lan Đà Phiệt Ra, Xá Lợi Tử, Mãn Từ Tử, Bạt Câu La, Ưu Ba Ly, La Lổ La, Vô Diệt Thiện Hiện làm thượng thủ. Trừ một mình A Nan Đà còn ở địa vị hữu học đắc quả Dự lưu.

Lại có bảy vạn hai ngàn đại Bồ tát đều đã thông đạt pháp tánh sâu xa, đã điều thuận dễ hóa, diệu hạnh bình đẳng, đắc pháp môn Đà la ni vô ngại biện, là bạn lành chơn tịnh của tất cả hữu tình, có thể chuyển vận bánh xe chánh pháp vi diệu bất thối, thương xót thế gian, hộ trì tạng pháp, đã từng cúng dường vô lượng Như Lai, tiếp nối làm hưng thịnh ba ngôi báu, thường khiến cho không dứt tuyệt, thông đạt cảnh giới sâu xa của chư Phật, còn một đời làm đệ tử chơn thật của đấng Pháp vương, thường có thể tiếp nối Phật, chuyển vận bánh xe chánh pháp; mặc dù ở thế gian nhưng không bị nhiễm. Các Ngài đầy đủ vô lượng công đức như thế, từ nước Phật này hoặc từ phương khác, vì nghe pháp nên đi đến chỗ Phật. Đó là: Bồ tát Bảo Tướng, Bồ tát Bảo Thủ, Bồ tát Bảo Ấn, Bồ tát Bảo Kế, Bồ tát Bảo Quang, Bồ tát Bảo Phong, Bồ tát Bảo Hải, Bồ tát Bảo Diễm, Bồ tát Bảo Tràng, Bồ tát Bảo Tạng, Bồ tát Kim Tràng, Bồ tát Tịnh Tạng, Bồ tát Đức Tạng, Bồ tát Định Tạng, Bồ tát Trí Tạng, Bồ tát Nhật Tạng, Bồ tát Nguyệt Tạng, Bồ tát Như Lai Tạng, Bồ tát Liên Hoa Tạng, Bồ tát Kim Cang Tạng, Bồ tát Giải Thoát Nguyệt, Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Phổ Âm, Bồ tát Phổ Giới, Bồ tát Phổ Hành, Bồ tát Phổ Nhãn, Bồ tát Quảng Nhãn, Bồ tát Liên Hoa Nhãn, Bồ tát Trí Tuệ, Bồ tát Thượng Tuệ, Bồ tát Thắng Tuệ, Bồ tát Liên Hoa Tuệ, Bồ tát Kim Cang Tuệ, Bồ tát Nhật Quang, Bồ tát Nguyệt Quang, Bồ tát Trí Quang, Bồ tát Trí Đức, Bồ tát Hiền Đức, Bồ tát Hoa Đức, Bồ tát Nhật Quán, Bồ tát Nguyệt Quán, Bồ tát Vô Nhiễm, Bồ tát Diệu Âm, Bồ tát Đại Âm Vương, Bồ tát Sư Tử Hống, Bồ tát Sư Tử Du Hý, Bồ tát Hiền Thủ, Bồ tát Thập Lục Hiền, Bồ tát Từ Thị v.v...

Các Bồ tát ở Hiền kiếp: Bồ tát Quán Tự Tại, Bồ tát Diệu Cát Tường làm thượng thủ.

Lại có vô lượng chúng trời: Tứ Đại vương, Tứ Đại Thiên vương làm thượng thủ. Lại có vô lượng trời: Ba mươi ba, Thiên vương Đế Thích làm thượng thủ. Lại có vô lượng trời: Dạ ma, Thiên vương Tô dạ ma làm thượng thủ. Lại có vô lượng trời Đổ sử đa, Thiên vương San đổ sử đa làm thượng thủ. Lại có vô lượng trời: Nhạo Biến Hóa, Thiên vương Thiện Hóa làm thượng thủ. Lại có vô lượng trời Tha Hóa Tự Tại, Thiên vương Tự Tại làm thượng thủ. Lại có vô lượng trời Phạm Chúng v.v... Thiên vương Đại Phạm làm thượng thủ. Lại có vô lượng trời Tịnh Cư, trời Tự Tại làm thượng thủ... Các Thiên vương ấy dẫn quyến thuộc đến chỗ Phật nghe pháp.

Lại có vô lượng vua A tu la, trong đó có: Vua A tu la Cụ Lực, vua A tu la Kiêm Uẩn, vua A tu la Tạp Oai, vua A tu la Bộc Chấp làm thượng thủ, đều thống lãnh vô lượng trăm ngàn quyến thuộc, đi đến chỗ Phật nghe pháp.

Lại có vô lượng Đại Lực Long vương, trong đó có: Long vương Vô Nhiệt, Long vương Mãnh Ý, Long vương Hải Trụ, Long vương Công Xảo làm thượng thủ, đều thống lãnh vô lượng trăm ngàn quyến thuộc, đi đến chỗ Phật nghe pháp.

Lại có vô lượng Đại thần Dược xoa, nhơn phi nhơn v.v... và các quyến thuộc, đi đến chỗ Phật nghe pháp.

Khi ấy, núi Thứu Phong cao rộng khoảng bốn mươi do tuần, đầy dẫy đại chúng, mặt đất và hư không, chẳng có chỗ xen hở.

Thế Tôn ngồi ở tòa Sư tử, vô lượng đại chúng vây quanh trước sau, cung kính cúng dường, tôn trọng khen ngợi, chấp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan.

Như Lai hiện năng lực thần thông, từ nơi miệng phát ra các thứ hào quang muôn sắc chiếu khắp vô biên thế giới trong mười phương, hiện việc hy hữu rồi các hào quang quay về chỗ Phật, lượn quanh bên phải ba vòng và chui vào diện môn.

Bấy giờ, ở phương Đông, cách cõi Phật này hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới Phật tên là Trang Nghiêm, Phật hiệu là Phổ Quang Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn (Bạc già phạm), khi ấy đang an ẩn trụ trì cõi kia, tuyên thuyết chánh pháp tương ưng với Nhất thừa cho các chúng đại Bồ tát. Ở thế giới của Phật kia, từ Nhị thừa còn chẳng nghe, huống là có người siêng năng tu tập pháp đó. Các Bồ tát kia đều đắc Bất thối chuyển, các hữu tình kia chẳng thọ thực như cõi phàm, chỉ sống bằng thiền định giải thoát. Cõi đó chẳng cần ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, chỉ có hào quang nơi thân Phật ngày đêm thường chiếu. Cõi đó không có gai độc, sỏi đá, khe, lạch, hang, núi, gò… đất bằng như bàn tay. Ở đó có Bồ tát tên là Ly Chướng, thấy hào quang này, tâm còn do dự, cùng các chúng đại Bồ tát đi đến trước Phật cõi đó, đảnh lễ sát chân Phật, phủ vai bên trái, gối phải quỳ sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật (1):

- Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà có điềm lành này?

Khi ấy, Phật Phổ Quang bảo Ly Chướng:

- Về phương Tây, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Kham Nhẫn, Phật hiệu Thích ca Mâu ni Như Lai, mười hiệu đầy đủ, đang thuyết Đại Bát nhã Ba la mật cho các chúng đại Bồ tát. Do nhân duyên này nên hiện điềm lành.

Bồ tát Ly Chướng nghe xong, bạch:

- Bạch Thế Tôn! Nay con xin qua thế giới Kham Nhẫn quan sát, đảnh lễ, cúng dường Như Lai Thích ca để nghe và lãnh thọ chánh pháp. Cúi xin Thế Tôn cho phép.

Phật Phổ Quang bảo Ly Chướng:

- Nay đã đúng thời, ngươi nên mau đi.

Bồ tát Ly Chướng được Phật cho phép, vui mừng hớn hở liền cùng với vô lượng chúng Bồ tát đồng đi đến Thứu Phong, đảnh lễ sát chân Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng rồi lui ngồi một bên.

 

Về phương Nam, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Thanh Tịnh Hoa, Phật hiệu Nhật Quang, mười hiệu đầy đủ, ở đó có Bồ tát tên là Nhật Tạng.

Về phương Tây, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Bảo Hoa, Phật hiệu Công Đức Quang Minh, mười hiệu đầy đủ, ở đó có Bồ tát tên là Công Đức Tạng.

Về phương Bắc, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Thanh Tịnh, Phật hiệu Tự Tại Vương, ở đó có Bồ tát tên là Quảng Văn.

Về phương Đông Nam, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Hỏa Diệm, Phật hiệu Cam Lồ Vương, mười hiệu đầy đủ, ở đó có Bồ tát tên là Bất Thối Chuyển.

Về phương Tây Nam, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Thanh Tịnh Công Đức, Phật hiệu Trí Cự, mười hiệu đầy đủ, ở đó có Bồ tát tên là Đại Tuệ.

Về phương Tây Bắc, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Duyệt Ý, Phật hiệu Diệu Âm Vương, mười hiệu đầy đủ, ở đó có Bồ tát tên là Công Đức Tụ.

Về phương Đông Bắc, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Tuệ Trang Nghiêm, Phật hiệu Trí Thượng, mười hiệu đầy đủ, ở đó có Bồ tát tên là Thường Hỷ.

Về phương Trên, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Bất Động, Phật hiệu Kim Cang Tướng, mười hiệu đầy đủ, ở đó có Bồ tát tên là Bảo Tràng.

Về phương Dưới, cách đây hơn mười Căng già sa số thế giới, có thế giới của Phật tên là Nguyệt Quang Minh, Phật hiệu là Kim Cang Bảo Trang Nghiêm Vương, mười hiệu đầy đủ, ở đó có Bồ tát tên là Bảo Tín.

Như thế, tất cả đều như phương Đông, có nghĩa là các Bồ tát (ở chín phương khác) xin phép chư Phật cõi mình đến thế giới Kham Nhẫn cúng dường Như Lai Thích Ca để nghe và lãnh thọ chánh pháp.

 

Thích nghĩa:

(1). Kinh Đại Bát Nhãtả một người khi gặp Phật thường đảnh lễ . . , thiên phú tả kiên, hữu tất trước địa, hợp chưởng cung kính” tạm dịch “phủ vai bên trái, gối phải quỳ sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật”. Kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã lại nói: “偏袒右肩右膝著地. 合掌向佛頭面 , thiên đản hữu kiên, hữu tất trứ địa, hợp chưởng hướng Phật đầu diện tác lễ”, tạm dịch là “trần vai bên phải, gối phải phục sát đất, chấp tay hướng Phật, đầu mặt đảnh lễ”. Cả hai nghi thức này: Phủ kín vai trái hay vạch trần vai phải như nhau. Nhưng theo tục lệ Ấn độ để trần vai bên phải lộ ra có ý nghĩa là tự hạ mình hết sức, để tỏ lòng tôn kính với người đối diện. Nhiều Kinh điển ghi rằng “thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng cung kính nhi bạch Phật”. Đây cũng chỉ là hình tướng, đáng lẽ không cần trình ra. Nhưng là mối nghi của tục lệ thời Phật, nên trình ra để tìm câu giải đáp thỏa đáng cho độc giả? Câu giải đáp thỏa đáng là vạch trần vai phải hay để lộ vai phải. Trong các hình tượng hoặc cũ hoặc mới người ta thường thấy chư Phật hay các Tăng Ni vận y thường để trần vai phải, nghĩa là choàng y phủ vai trái xuống tận nách vai phải.

 

Sơ giải:

 

 Phần mở đầu của phẩm này, liệt kê tất cả nhân vật tham dự pháp hội tỉ mỉ hơn các Hội trước. Nhưng không diễn tả quang cảnh tưng bừng lộng lẫy giống như buổi hội tại đỉnh Linh Thứu như phẩm “Duyên Khởi” của Hội thứ I. Ngoài ra, nhất nhất đều giống như các phẩm “Duyên Khởi” của tất cả các Hội đã kể. Chỉ cần đọc một phẩm trong các phẩm “Duyên Khởi” cũng tạm đủ.

Đây Kinh thuyết theo lối trần thuật, ai đọc cũng có thể hiểu. Như vậy là quá đủ, chúng ta không cần dong dài, dành thời giờ để đọc tụng thọ trì các phẩm khó khăn tiếp theo.

 

---o0o---